CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỦA CỘNG ĐỒNG DOANH NHÂN VCEO

QUẢN TRỊ CÔNG TY: CẦN NỘI DUNG HƠN LÀ HÌNH THỨC

27/08/2020

“Quản trị công ty” – tương đương với cụm từ tiếng Anh “Corporate governance” – là thuật ngữ khá mới mẻ nhưng lại rất thường được đề cập đến trong hoạt động quản trị doanh nghiệp ở nước ta trong thời gian gần đây.

Ngày càng có nhiều công ty cổ phần quan tâm đến khái niệm này, một phần do đòi hỏi của pháp luật pháp doanh nghiệp Việt Nam, phần khác do đòi hỏi của chính các cổ đông (shareholders) và các bên liên quan (stakeholders) khác của doanh nghiệp. Mặc dù pháp luật doanh nghiệp nước ta đã có những quy định điều chỉnh việc thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động của doanh nghiệp, trong đó rất nhiều điều khoản ràng buộc doanh nghiệp phải hoạt động công khai, minh bạch, tuân thủ pháp luật, đối xử công bằng giữa các cổ đông, đảm bảo quyền lợi cổ đông…, nhưng trong thực tiễn vận hành, vẫn còn rất nhiều vấn đề phát sinh mà luật pháp không thể điều chỉnh hết. Đó là lý do nhiều cổ đông, nhất là các cổ đông nhỏ trong các công ty cổ phần, cùng với một số các bên liên quan khác thường gây áp lực, buộc công ty phải xây dựng quy chế quản trị công ty riêng cho mình.

Quy chế quản trị công ty thường được xây dựng dựa trên cơ sở tuân thủ các quy định của pháp luật hiện hành, đồng thời bổ sung thêm những quy định riêng cho phù hợp với đặc thù doanh nghiệp và mong muốn của cổ đông cùng các bên liên quan. Mặt khác, không chỉ xuất phát từ áp lực của cổ đông hay các bên liên quan, mà chính Hội đồng quản trị và Ban giám đốc công ty cũng thường có khuynh hướng muốn xây dựng một quy chế quản trị công ty bài bản để giúp công ty hoạt động chuyên nghiệp, minh bạch nhằm nâng cao uy tín công ty và thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư bên ngoài. Tuy nhiên, do nhận thức về quản trị công ty còn nhiều hạn chế, đồng thời, không loại trừ yếu tố cố tình hiểu sai bản chất và ý nghĩa của quản trị công ty, các quy chế quản trị công ty được các doanh nghiệp Việt Nam xây dựng hiện nay thường được mang tính hình thức, chung chung, chưa đáp ứng được yêu cầu cần có của những quy tắc quản trị công ty theo thông lệ quản trị tốt nhất, và chưa đáp ứng được nguyện vọng của cổ đông cũng như các bên liên quan.

Hiện nay, các công ty niêm yết trên cơ sở Giao dịch Chứng khoán/ Trung tâm giao dịch chứng khoán đều phải áp dụng quy chế quản trị công ty do Bộ Tài chính ban hành kèm theo Quyết định số 12/2007/QĐ-BTC ngày 13/3/2007. Tuy vậy, Quy chế này không chỉ bao gồm các quy định cụ thể để các công ty niêm yết áp dụng ngay mà còn bao gồm một số điều khoản mang tính hướng dẫn để các công ty tự xây dựng quy chế quản trị nội bộ riêng, miễn sao đáp ứng các yêu cầu mang tính nguyên tắc trong Quy chế.

Điều 4, khoản 2 của Quy chế quản trị công ty do Bộ Tài chính ban hành có ghi: “Công ty niêm yết có trách nhiệm xây dựng và ban hành Quy chế nội bộ về quản trị công ty. Quy chế nội bộ về quản trị công ty gồm các nội dung chủ yếu sau:

  1. Trình tự, thủ tục về triệu tập và biểu quyết tại Đại hội đồng cổ đông;
  2. Trình tự và thủ tục để cử, ứng cử, bầu, miễn nhiệm và bãi nhiệm thành viên Hội đồng quản trị;
  3. Trình tự, thủ tục tổ chức họp Hội đồng quản trị;
  4. Trình tự, thủ tục lựa chọn, bổ nhiệm, miễn nhiệm cán bộ quản lý cấp cao;
  5. Quy trình, thủ tục phối hợp hoạt động giữa Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, thành viên Ban giám đốc và các cán bộ quản lý”.

Như vậy, có thể thấy, ngoài các điều khoản quy định cụ thể, Quy chế quản trị công ty của Bộ Tài chính còn có những điều khoản mang tính hướng dẫn và trao quyền tự quyết cho các công ty niêm yết, miễn sao không trái với các quy định của pháp luật. Vấn đề đặt ra là các công ty niêm yết sẽ thực hiện quyền tự quyết này như thế nào khi xây dựng quy chế nội bộ về quản trị công ty; và các công ty chưa niêm yết liệu có cần phải xây dựng quy chế quản trị công ty hay không?

Để trả lời các câu hỏi này, trước hết, chúng ta hãy xem định nghĩa của cụm từ “quản trị công ty” trong Quy chế quản trị công ty do Bộ Tài chính ban hành như sau:

“Quản trị công ty là hệ thống các quy tắc để đảm bảo cho công ty được định hướng điều hành và được kiểm soát một các có hiệu quả vì quyền lợi của cổ đông và những người liên quan đến công ty. Các nguyên tắc quản trị công ty bao gồm:

  • Đảm bảo một cơ cấu quản trị hiệu quả;
  • Đảm bảo quyền lợi cuat cổ đông;
  • Đối xử công bằng giữa các cổ đông;
  • Đảm bảo vai trò của những người có quyền lợi liên quan đến công ty;
  • Minh bạch trong hoạt động của công ty;
  • Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát lãnh đạo và kiểm soát công ty có hiệu quả”.

Cách hiểu khái niệm quản trị công ty như trên là tương đối phù hợp với thông lệ quốc tế tốt nhất (best practices) về quản trị công ty. Ở đây, cần lưu ý rằng quản trị công ty không chỉ liên quan đến cổ đông (shareholders) mà còn chi phối và ảnh hưởng đến các bên liên quan đến công ty (stakeholders). Vì vậy, các công ty (dù là niêm yết hay chưa niêm yết), khi xây dựng quy chế quản trị công ty (đôi khi, gọi là “các nguyên tắc quản trị công ty” – corporate governance principles), cần hết sức lưu ý đến những người liên quan đến công ty, bao gồm cổ đông, khách hang, đối tác, chủ nợ, nhân viên, các cơ quan quản lý nhà nước, cộng đồng…

Một quy chế quản trị công ty, ngoài việc phải đáp ứng các yêu cầu bắt buộc trong pháp luật doanh nghiệp như Luật Doanh nghiệp, Luật Chứng khoán và các văn bản dưới luật; quan trọng hơn, phải thể hiện được cách thức quản trị công ty chuyên nghiệp, minh bạch và hiệu quả. Nếu như các yêu cầu bắt buộc trong luật là “điều kiện cần” thì chính các yêu cầu từ thực tiến hoạt động quản trị doanh nghiệp, trong đó rất quan trọng là kỳ vọng của cổ đông và các bên liên quan, mới là “điều kiện đủ”. Vì vậy, khi xây dựng quy chế quản trị công ty, ban lãnh đạo công ty phải biết công ty thực sự cần gì để hoạt động chuyên nghiệp, minh bạch và hiệu quả, đảm bảo được sự công bằng trong cả quyền, nghĩa vụ và lợi ích của cổ đông, và sự hài hòa với lợi ích của các bên liên quan khác. Tương tự như giấy chứng nhận ISO không phải chỉ để cho có, quy chế quản trị công ty cần thực chất nội dung hơn là mang tính hình thức để đối phó với luật hoặc đòi hỏi của cổ đông hoặc các bên liên quan khác.

Một khi luật và các văn bản dưới luật còn nhiều kẽ hở, chưa thể ngăn chặn triệt để các hoạt động mờ ám, thao túng, xâm phạm lợi ích cổ đông, thì chính điều lệ và quy chế quản trị công ty được xây dựng một cách nghiêm túc sẽ đóng vai trò “bọc lót”, bịt kín những kẽ hở này để bảo vệ sự minh bạch, công bằng trong công ty. Những quy định cụ thể, chặt chẽ và chi tiết hơn trong quy chế quản trị công ty về quyền lợi cổ đông, về Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ), Hội đồng quản trị (HĐQT), Ban kiểm soát (BKS), về vấn đề ngăn ngừa xung đột lợi ích, công bố thông tin…sẽ giúp công ty tránh được những tranh cãi bất tận khi xảy ra những vấn đề liên quan mà luật không quy định hết.

Một trong những ví dụ là việc quy định tách bạch vai trò, trách nhiệm, quyền hạn của Chủ tịch HĐQT với Tổng giám đốc (TGĐ) công ty. Đây là điều mà một quy chế quản trị công ty chuyên nghiệp rất nên đề cập một cách cụ thể. Hiện tượng một người kiêm nghiệm đồng thời hai chức danh Chủ tịch HĐQT và TGĐ là khá phổ biến; và việc sử dụng lẫn lộn vai trò, quyền hạn của hai chức danh này trong quản lý, điều hành doanh nghiệp cũng xảy ra khá thường xuyên, gây khó khăn cho việc giám sát, đánh giá năng lực cũng như tư cách của TGĐ đồng thời là Chủ tịch HĐQT. Một ví dụ khác là vai trò của BKS trong các công ty cổ phần. Một quy chế quản trị công ty chuyên nghiệp cần quy định cụ thể hơn trách nhiệm, quyền hạn của mỗi thành viên BKS, chứ không phải của cả BKS một các chung chung. Thực tế cho thấy ngay trong nội bộ BKS cũng có thể chia thành “5 phe, 7 phái” và số đông bất chính trong BKS vẫn có thể dùng thế mạnh đa số của mình để áp đảo, vô hiệu hóa thành viên BKS chân chính. Có những báo cáo của BKS được lập, do Trưởng ban ký đại diện, chỉ biết ca tụng thành tích của HĐQT và TGĐ, trong khi có thành viên trong BKS (thường chiếm thiểu số) cho rằng có những hoạt động bất minh do HĐQT/TGĐ chủ xướng để trục lợi. Nếu không có một quy chế quản trị công ty được xây dựng cẩn trọng, tiếng nói yếu ớt của một thành viên BKS chân chính sẽ bị lấn át bởi tiếng nói “a dua” của đa số thành viên BKS khác - vốn do chính các cổ đông lớn trong HĐQT/BGĐ dựng lên, không phải để kiểm soát mà để bảo vệ họ.

Hai ví dụ trên cho thấy phần nào bức tranh muôn hình, muôn vẻ của hoạt động quản trị doanh nghiệp. Những công ty hoạt động minh bạch, hoặc có mong muốn hoạt động minh bạch cần xây dựng quy chế quản trị công ty chuyên nghiệp, đáp ứng được mong đợi của không chỉ cổ đông lớn mà của cả cổ đông nhỏ và các bên liên quan.

Điều quan trọng bậc nhất khi xây dựng quy chế quản trị công ty là cần chú trọng nội dung nhiều hơn là hình thức!

Trích “Chuyện đời & chuyện nghề - Tập 1” - Nguyễn Hữu Long

Bài viết khác